Vì sao khí đốt và khí thiên nhiên hóa lỏng LNG là mấu chốt cho sự phát triển kinh tế Việt Nam đến những năm 2030?
19814 views
06-09-2024
Share on Google+ Share on Twitter Share on Facebook Share on Pinterest Share on Linkedin

(Doanh Nhân Thành Thị – Business.Cosmolife.vn) Theo các chuyên gia của Công ty Nghiên cứu và tư vấn thị trường năng lượng Wood Mackenzie, nhu cầu về khí đốt và khí thiên nhiên hóa lỏng của Việt Nam dự kiến sẽ tăng trung bình 12% mỗi năm, để phục vụ cho tăng trưởng kinh tế và có thể tăng gấp ba lần vào giữa những năm 2030.

Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam phụ thuộc vào các khoản đầu tư chiến lược vào cơ sở hạ tầng khí đốt, hợp đồng khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) và những cải cách chính sách quan trọng, khi nhu cầu về khí đốt của quốc gia dự kiến tăng trung bình 12% mỗi năm và có thể tăng gấp ba lần vào giữa những năm 2030 - theo nghiên cứu của công ty nghiên cứu và tư vấn thị trường năng lượng Wood Mackenzie.

Tiêu thụ khí đốt sẽ tiếp tục tăng do nhu cầu năng lượng ngày càng cao hơn, từ 8 triệu tấn dầu quy đổi (Mtoe) vào năm 2020 lên 20 Mtoe vào năm 2035. Trong quá trình chuyển đổi này, tỷ trọng than tiêu thụ sẽ giảm 7 Mtoe vào năm 2050.

Ông Joshua Ngu, Phó Chủ tịch Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương của Wood Mackenzie, cho biết ngành điện lực sẽ tiếp tục dẫn đầu trong tiêu thụ khí đốt, với dự báo nhiên liệu này sẽ đóng góp tới 14% tổng sản lượng điện vào năm 2030.

“Việc phát điện từ khí đốt đang ngày càng cần thiết để hạn chế khả năng xảy ra tình trạng thiếu điện trong tương lai gần," ông Joshua Ngu cho biết. "Khi sản lượng điện từ than chững lại trong giai đoạn tới và năng lượng tái tạo tiếp tục đối mặt với những thách thức như hiệu suất gián đoạn hay các hạn chế của lưới điện, khí đốt và LNG sẽ là những nguồn nhiên liệu quan trọng đảm bảo an ninh năng lượng của quốc gia cũng như hỗ trợ kinh tế tăng trưởng bền vững.”

Nhu cầu khí đốt của Việt Nam theo từng ngành


Nguồn: Wood Mackenzie (đơn vị mmcfd - triệu feet khối mỗi ngày)

Bên cạnh nhu cầu khí đốt được dự báo tăng lên, Việt Nam cũng đối mặt với nhiều thách thức trong  sản lượng nội địa. Các mỏ khí hiện tại - chủ yếu nằm ở khu vực Đông Nam Bộ - đang bước vào giai đoạn cạn kiệt, dẫn đến nguồn cung khí đốt nội địa giảm 25% trong 5 năm qua. Tuy nhiên, với những dự án phát triển gần đây - như Quyết định đầu tư (FID) Lô B ở Lưu vực Malay - dự kiến sẽ tăng thêm 0,4 tỷ feet khối (tương đương 11.3 triệu mét khối) sản lượng khí đốt mỗi ngày (bcfd) vào năm 2030. Ngoài ra, việc xây dựng đường ống dẫn khí từ lô hợp đồng phân chia sản lượng dầu khí Tuna (Indonesia) ở Biển Natuna được kỳ vọng sẽ có thể vận chuyển khí đốt cho Việt Nam kể từ những năm 2030 trở đi.

Wood Mackenzie dự đoán trong tương lai, lượng khí đốt Yet-To-Find (YTF) sau năm 2030 sẽ được phân bổ ở cả miền Bắc và miền Nam Việt Nam.

Nhu cầu khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) và hợp đồng mua bán LNG tại Việt Nam


Nguồn: Wood Mackenzie

Tiềm ẩn rủi ro biến động giá trong thị trường khí đốt Việt Nam do thiếu hụt nguồn cung khí LNG đảm bảo

Nghiên cứu của Wood Mackenzie cho thấy Việt Nam  chỉ đang hoàn toàn tiếp xúc với thị trường khí LNG mua và giao ngay, chưa ký bất kỳ hợp đồng mua bán LNG dài hạn nào.

“Thiếu hụt trong nguồn cung khí LNG theo hợp đồng, cùng với nguồn tài nguyên trong nước ngày càng cạn kiệt, làm tăng nguy cơ biến động giá ở Việt Nam cũng như nguy cơ mất điện hoặc phân phối khí đốt trong tương lai,” ông Raghav Mathur, Chuyên gia Nghiên cứu và Phân tích lĩnh vực Khí đốt & LNG của Wood Mackenzie cho biết. “Sự chênh lệch giữa giá điện sản xuất từ khí LNG, các hợp đồng mua bán điện, các dự án điện khí LNG chưa có nhiều tiến triển đã và đang trở thành những trở ngại đáng kể đối với việc ký kết hợp đồng LNG tại Việt Nam”.

Cơ sở hạ tầng mới và các chính sách hỗ trợ là rất cần thiết


 Nguồn: Wood Mackenzie Lens

Wood Mackenzie cho biết việc phát triển cơ sở hạ tầng khí đốt mới sẽ giảm bớt lo ngại về tình trạng thiếu khí đốt. Mạng lưới đường ống chính của Việt Nam hiện tập trung ở khu vực phía Nam, nơi có trung tâm kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh. Hai kho cảng khí LNG đã được xây dựng ở miền Nam Việt Nam, với cảng LNG Thị Vải đã hoạt động và cảng Hải Linh dự kiến sẽ đi vào hoạt động vào tháng 9 năm 2024. Một số công trình kho cảng LNG khác đang ở giai đoạn nghiên cứu tính khả thi và dự kiến có thể đi vào hoạt động vào đầu những năm 2030.

“Việc chính phủ Việt Nam phê duyệt Kế hoạch thực hiện Quy hoạch điện VIII vào tháng 5 năm 2023 nhấn mạnh tầm quan trọng của các dự án điện khí LNG, hướng tới việc tăng thêm 22,4 GW công suất điện từ khí LNG vào năm 2030”, bà Yulin Li, Chuyên gia Nghiên cứu về Khí đốt & LNG tại Wood Mackenzie cho biết. Tuy nhiên, để Việt Nam tận dụng triệt để tiềm năng của khí đốt và LNG, cần có một cơ chế năng lượng chuyên biệt để tập trung vào chính sách và quy định về năng lượng. “Một khung chính sách mạnh mẽ là điều cần thiết để thu hút đầu tư vào phát triển cơ sở hạ tầng khí đốt trung và hạ nguồn”, bà Li nhấn mạnh.

Theo phân tích của Wood Mackenzie, Việt Nam nên phát triển thêm quan hệ hợp tác với các nhà cung cấp giải pháp có khả năng đáp ứng yêu cầu của quốc gia. Hiện nay, có nhiều nhà cung cấp uy tín đang hoạt động tại Việt Nam, trong đó có thể kể đến PETRONAS.

Là một trong những nhà sản xuất LNG tích hợp lớn nhất thế giới, PETRONAS sản xuất hơn 36 triệu tấn khí LNG mỗi năm với các cơ sở ở Bintulu, Úc, Ai Cập và sắp tới là Canada. Mạng lưới rộng lớn này củng cố thương hiệu uy tín của PETRONAS để cung cấp khí LNG cho Việt Nam.

Khởi đầu là một nhà cung cấp năng lượng cho thị trường nội địa Malaysia, PETRONAS đã mở rộng cung cấp năng lượng cho các nền kinh tế chủ chốt ở châu Á như Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc. Sự mở rộng này nhấn mạnh chuyên môn, hiểu biết sâu sắc của PETRONAS về các yếu tố, xu hướng ảnh hưởng đến cách thức hoạt động của các thị trường ở khu vực châu Á cũng như có khả năng cung cấp các giải pháp chuyên biệt, linh hoạt theo từng điều khoản thương mại và hợp đồng.

Với tầm nhìn mang đến một tương lai xanh hơn, PETRONAS sản xuất khí LNG một cách có trách nhiệm, tận dụng và cải tiến công nghệ để giảm phát thải. Các biện pháp như điện khí hóa, ngăn chặn xả thải và đốt bỏ, cũng như công nghệ thu giữ và lưu trữ carbon (CCS) là những nỗ lực quan trọng trong quá trình này. Ngoài ra, kể từ khi bước vào thị trường Việt Nam vào năm 1991, PETRONAS đã tích lũy kiến thức sâu rộng về nhu cầu năng lượng của Việt Nam qua 33 năm hoạt động, hợp tác với các cơ quan có thẩm quyền và các đối tác quan trọng trong ngành. Mối quan hệ này ngày càng được củng cố nhờ những nỗ lực hợp tác của các bên thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau trong chuỗi giá trị năng lượng của đất nước.

Publish: Doanh Nhân Thành Thị – Business.Cosmolife.vn | Source: Wood Mackenzie
RELATED NEWS

Grab Việt Nam và Huế: Thí điểm thành công mô hình kinh tế số gắn với di sản

13413 views
12-06-2026
Sau một năm đồng hành cùng Thành phố Huế, Grab Việt Nam ghi dấu bằng loạt sáng kiến kết nối công nghệ với du lịch, văn hóa, giao thông và kinh doanh địa phương. Không chỉ góp phần nâng tầm trải nghiệm du khách thông qua Grab Xích Lô, Hộ chiếu Ẩm thực Huế hay hệ sinh thái dịch vụ số, doanh nghiệp còn thúc đẩy chuyển đổi số cho hàng trăm hộ kinh doanh và tạo thêm cơ hội thu nhập cho người dân. Những kết quả đạt được đang đưa Huế trở thành một hình mẫu hợp tác công – tư đáng chú ý, mở ra triển vọng nhân rộng trên phạm vi toàn quốc.

Đòn bẩy mới cho kinh tế sáng tạo và du lịch văn hóa Việt Nam từ Chạm Di sản – Ký ức đô thị

13283 views
11-06-2026
Sự kết hợp giữa di sản, công nghệ số và nguồn lực doanh nghiệp đang tạo nên một hướng đi mới cho phát triển đô thị. Thông qua “Chạm Di sản – Ký ức đô thị”, các giá trị văn hóa của TP.HCM được kể lại bằng ngôn ngữ phù hợp với thế hệ số, đồng thời mở rộng cơ hội quảng bá du lịch, kích thích tiêu dùng trải nghiệm và nâng cao nhận diện thương hiệu địa phương. Đằng sau những phiên livestream là một chiến lược dài hơi nhằm chuyển hóa tài sản văn hóa thành nguồn lực kinh tế có khả năng tạo tác động bền vững.

Ngày vinh danh Thương hiệu Việt Nam: Khơi dòng, bứt tốc đưa thương hiệu Việt vào dòng chảy tăng trưởng mới

13405 views
06-06-2026
Made by Vietnam Day – Dấu ấn Thương hiệu Việt 2026 trở lại với quy mô mở rộng, kết nối doanh nghiệp, chuyên gia và nhà hoạch định chính sách trong một hệ sinh thái thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Không dừng ở hoạt động tôn vinh, chương trình tập trung vào ba động lực tăng trưởng đang định hình kinh tế khu vực gồm dòng chảy số, dòng chảy xanh và dòng vốn mới. Với diễn đàn chuyên sâu, không gian triển lãm công nghệ cùng chương trình tăng tốc thương hiệu cho doanh nghiệp trẻ, sự kiện cho thấy khát vọng đưa giá trị Việt tiến sâu hơn vào chuỗi cung ứng và thị trường toàn cầu.

Dự án chiến lược đón sóng du lịch và công nghiệp Regent Ho Tram và Crowne Plaza Saigon Binh Duong nâng quy mô hợp tác IHG – Meraki Land lên tầm mới

13878 views
03-06-2026
Thỏa thuận phát triển Regent Ho Tram và Crowne Plaza Saigon Binh Duong đánh dấu bước mở rộng đáng chú ý trong chiến lược tăng trưởng của IHG Hotels & Resorts và Meraki Land tại Việt Nam. Một bên là khu nghỉ dưỡng siêu sang hướng đến nhóm khách hàng toàn cầu tại Hồ Tràm, bên còn lại là khách sạn cao cấp phục vụ trung tâm công nghiệp năng động của TP.HCM mới. Sự kết hợp giữa du lịch nghỉ dưỡng, bất động sản thương hiệu và hạ tầng kinh tế đang mở ra một chương mới cho thị trường lưu trú Việt Nam trên bản đồ đầu tư châu Á – Thái Bình Dương.

Prudential X VIB nâng chuẩn bancassurance: Bảo vệ gần 400.000 khách hàng bằng chuẩn mực khách hàng thế hệ mới

13547 views
02-06-2026
Sau hơn 10 năm đồng hành, Prudential và VIB tiếp tục cập nhật thỏa thuận hợp tác chiến lược, đặt trọng tâm vào chất lượng tư vấn, tính minh bạch và trải nghiệm khách hàng. Việc bảo vệ gần 400.000 khách hàng cùng cam kết hợp tác kéo dài đến năm 2036 cho thấy xu hướng mới của thị trường bancassurance Việt Nam: tăng trưởng dựa trên niềm tin, giá trị dài hạn và các chuẩn mực quản trị khách hàng tiệm cận thông lệ quốc tế. Từ việc đưa tỷ lệ duy trì hợp đồng vào thỏa thuận đến xây dựng Ủy ban Quản lý Chuẩn mực Ứng xử Khách hàng, liên minh này đang phản ánh một xu hướng đáng chú ý của tài chính châu Á: lấy trải nghiệm, sự minh bạch và giá trị thực làm nền tảng tăng trưởng.